Nano Phono Preampli (Nano phono) của Clearaudio được giới nghe nhạc gọi là “bé hạt tiêu”, “nhỏ mà võ cao”… Quả thực, thiết bị chỉ to bằng tập giấy nhắn tin này không thua các “đầu máy kềnh càng”.

Nano phono của Clearaudio


Từ 5 năm qua, hãng Clearaudio (CHLB Đức) có chủ trương tôn vinh âm thanh analogue (tái tạo âm thanh chỉ sử dụng kỹ thuật tương tự) bằng cách sản xuất các mâm đĩa than và các sản phẩm hỗ trợ có giá phải chăng. Cho nên, hiện nay, đã có nhiều mặt hàng hi-end “Made in Germany” mà ai cũng có thể mua như các mâm đĩa Emotion, Performance, Concept và nhất là Phono Preamp Nanophono! 

 

 

1. Các bo mạch được gắn chặt vào khung hợp kim nhôm để chống nhiễu rung
2. Công nghệ nano dùng để dán linh kiện lên bo mạch và mạch tích hợp được sử dụng là Burr Brown cuả Texas Instruments nên mọi đường dẫn tín hiệu của Clearaudio Nanophono giờ đây là vô cùng ngắn. Điều đó dẫn đến kết quả ngoạn mục là nền âm cực sạch, chi tiết nổi bật, không một chút nhiễu âm hay "ù nền"
3. Thiết kế chuyên nghiệp kiểu mono đối xứng L/R (Trái/Phải) riêng rẽ và có Volume Out
(núm điều chỉnh độ lớn của âm thanh)
4. Chọn đầu vào MM/MC dưới đáy chassis
5. Gain tự động, đủ sức chơi mọi loại đầu kim MM - MC Catridge hiện thời.

Trải nghiệm nhanh

Ngay sau khi khui hộp, chúng tôi chuyển chế độ MC sang MM, cắm điện AC 220V/50Hz, nối đầu vào của Nano với đầu quay đĩa nhựa Pioneer XL-1551 (chạy kim MM của Audio Technica) và đầu ra vào ngõ Aux của Amply tích hợp Rogue Tempest. Xin nói thêm là hầu hết các hãng audio hiện tại không có mạch phono trong preampli hay ampli tích hợp và nếu hãng nào còn làm thì mạch phono của họ có thể chỉ là “cho có”, chưa chắc đã có chất lượng mong đợi.

Chúng tôi quyết định chỉ nghe đi nghe lại 2 đĩa nhựa là John Denver’s Greatest Hits (đĩa ca khúc nhạc country do ca sĩ người Mỹ John Denver sáng tác và biểu diễn, được RCA Records phát hành năm 1973) và Symphony No9 mi thứ của Antonin Dvorak (From the New World Symphony - đĩa nhạc giao hưởng của do Nippon Columbia Co. Ltd (Nhật Bản) phát hành năm 1975 theo nhượng quyền của nhà xuất bản Supraphon (Tiệp Khắc cũ)). Đây cũng là các đĩa nhựa chúng tôi vẫn hay nghe kiểm tra dàn vì có những nội dung dễ dàng mô tả, đối chiếu.

Ở đĩa John Denver, khi bản đầu tiên “Take Me Home, Country Roads” vừa cất lên, chúng tôi nhận thấy một sự khác biệt với một số lần nghe trước. Một số lần nghe về trước “không nghe được to” vì ồn nhưng lần này tiếng đàn, tiếng trống, tiếng phách và tiếng hát đều gọn gàng, rõ ràng, sạch sẽ và chi tiết ngay cả khi nghe to. Các bản về sau, khi ampli đèn đủ nóng và trải nghiệm trở nên càng lúc càng tốt hơn. Các bè trầm ấm áp, giữa mộc mạc và cao nhuần nhuyễn đều được như mong đợi, giống như từng nghe với những giải pháp âm thanh hay.

Ở đĩa Symphony No9 của Dvorak, ngay đầu Chương Một có một đoạn trống dồn rất khí thế. Tiếng trống tròn đanh, mạnh mẽ, dứt khoát chứng tỏ tay gõ vận động nhanh, đúng tư thế và rất mạnh bạo, còn mặt trống thì rất căng và căng đều 360 độ. Ngoài ra, vì đây là nhạc giao hưởng nên việc thể hiện rõ từng khu vực, từng nhóm nhạc cụ, từng bè hay còn gọi là “lớp lang” của bộ dàn chứng tỏ Nanophono đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của nó.

Về chức năng, Clearaudio Nanophono không thua mạch Phono của một Ampli tích hợp khủng thời mâm đĩa than thịnh hành khoảng những năm 1980 về trước. Ngoài ra, Clearaudio Nanophono còn có thể sử dụng với một Power Ampli bất kỳ. Khi đấu nối nó với Power Ampli, vì đầu ra của Clearaudio Nano gần như đầu ra tín hiệu RCA thông thường nên cần phải điều chỉnh âm lượng Gain phát ra của Power Ampli về khoảng trên dưới “10h”. Việc tuỳ chỉnh âm lượng to nhỏ sau này có thể thực hiện ngay trên Clearaudio Nano (chênh lệch âm lượng maximum khoảng gấp đôi minimum).

Đáng ngợi khen nhất ở Clearaudio Nano là mức giá phải chăng (370 USD, ~7,7 triệu đồng) cùng khả năng trình diễn đặc anlalogue của nó. Người quen nghe đĩa CD và nhạc số sẽ lập tức nhận ra sự khác biệt thú vị và nếu nghe hết cả một mặt đĩa nhựa (~25 phút), chắc chắn họ sẽ có cảm tình với “Em bé võ cao” này. Đồng thời, Nanophono rất thân thiện môi trường, hầu như không tiêu tốn điện năng (trên máy còn không có cả nút bật tắt on/off) và không hề chiếm dụng diện tích, không gian.

Tham gia khảo sát:

Phần cứng: Đầu quay đĩa nhựa Pioneer XL-1551 (kim MM của Audio Technica); Marantz 6170 (kim MM Audio Technica). Ampli tích hợp Rogue Tempest; Kenwood L-02A; Power Ampli Bozak 929. Loa JBL 4312A; Infinity SM 150; AR 48BX.

Phần mềm (đĩa nhựa): John Denver’s Greatest Hits và Symphony No9 của Antonin Dvorak.

Cung cấp thiết bị: Audio Choice, www.amthanhvang.com.

---

Specifications:
Amplification: max. 69dB (MC) max. 49dB (MM)
Gain Control: from 34 - 67dB
Input Load: MM/MC 47Kohm / 220pF
MM/MC Input: Switchable (at bottom)
RIAA: Nach RIAA (Zeitkonst 75us / 318us / 3180us)
RIAA Accuracy: +-0.4dB
THD: 0.04% (IEC A)
S/N: 67db (MC) 84dB (MM)
Channel Seperation: Greater Than 80dB bei 1 kHz
Max. output voltage: 10V
Power Supply: 16V AC
Outputs: asymmetrical (RCA)
Dimensions: 4 3/16" x 3 1/8" x 1"

 

1[11]121314